Khái niệm tục ngữ là gì, nội dung và nghệ thuật của tục ngữ

Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam có nhiều câu ca dao tục ngữ thấm đượm tình cảm, tâm tư và đúc kết của ông cha ta. Hiểu được nó ta mới thấy được nét đẹp trong việc lưu truyền và gìn giữ khối lượng văn học dân gian đồ sộ này. Trong chương trình Văn Học lớp 7, chúng ta cùng nhau tìm hiểu về khái niệm tục ngữ là gì phương diện nội dung và nghệ thuật của nó để sử dụng một cách phù hợp và linh hoạt nhé.

Tục ngữ là gì

Khái niệm tục ngữ

Như đã nói, tục ngữ nằm trong khối văn học dân gian đồ sộ của nước ta.Tục ngữ là những câu thơ có nhạc điệu, vần điệu do chính nhân dân lao động sáng tạo và lưu truyền nhằm đúc kết kinh nghiệm, tri thức của họ. Chính vì vậy tục ngữ có thể nói mang những số phận gắn liền với lời ăn tiếng nói của người dân nên ngôn ngữ rất dung dị mà thân thương. Đôi khi chỉ là những câu nói đơn giản ngắn gọn, súc tích nhưng có vần điệu, nhịp điệu rất dễ nghe, dễ nhớ.

Nội dung tục ngữ

a. Tục ngữ phản ánh kinh nghiệm sản xuất của nhân dân lao động

– Những câu tục ngữ về đời sống lao động sản xuất được đúc kết, phản ánh điều kiện cũng như phương thức sản xuất hay đời sống của các dân tộc. Nó được sinh ra khi mà con người lao động và có sự đấu tranh với thiên nhiên và ông cha ta đúc kết lại thành những kinh nghiệm riêng. Cho đến tận ngày nay, nó luôn được lưu truyền phổ biến rộng rãi và trở thành một lĩnh vực tri thức về khoa học dân gian.

Chính vì nảy sinh trong điều kiện đấu tranh với thiên nhiên trong quá trình lao động mà nó thể hiện được những kinh nghiệm về quy luật biến đổi khí hậu, thời tiết.

“Mây thành vừa hanh vừa giá” hay “Vấy mại thì mưa, bối bừa thì nắng”… Những kinh nghiệm này cho thấy khả năng quan sát và lĩnh hội rất tỉ mỉ và đúng đắn của ông cha ta.

– Việt Nam ta là một nước nông nghiệp phát triển, trong đó nghề nông nghiệp trồng lúa nước chiếm ưu thế. Quá trình lao động và chăm sóc, ông cha ta cũng đã đúc kết được vốn kinh nghiệm quý báu đến giờ nó vẫn thể hiện tính đúng đắn của nó.

“Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống” – Ai ai làm nông cũng đều không dưới một lần được truyền thụ kinh nghiệm này hay ” Cơm quanh giá, mạ quanh bờ”, “Sương quánh cá thu, sương lu cá thửng” – tục ngữ trong lĩnh vực ngư nghiệp.

Từ xa xưa bằng kinh nghiệm thực tiễn mà ông cha ta đúc kết nên những kinh nghiệm sống còn lưu giữ cho đến tận ngày nay. Những câu tục ngữ bởi vậy thể hiện tinh thần sáng tạo vô cùng của nhân dân lao động. Song đôi khi nó chỉ phản ánh một mặt của các biểu hiện ở từng địa phương, từng thời điểm nhất định.

READ:  Cấu trúc Stop, Cách sử dụng Stop thường gặp

b. Tục ngữ ghi nhận các hiện tượng lịch sử xã hội

Tục ngữ về hiện tượng lịch sử xã hội là phổ biến nhất. Nó thể hiện những tập quán, thị hiếu hay những cuộc đấu tranh của nhân dân.

+ “Ăn lông ở lỗ”; “Con dại cái mang” hay “Năm cha ba mẹ” đều là những tục ngữ phản ánh những lối sống của thời kì lịch sử xưa cũ.

+ Ví dụ các hiện tượng lịch sử được thể hiện trong những câu tục ngữ: “Hai mốt giỗ cha, hai mươi ba giỗ con”; “Hăm mốt Lê Lai, Hăm hai Lê Lợi”…

+ Tục ngữ phản ánh lối sống sinh hoạt trong các gia đình, lối sống vật chất và tinh thần của người dân: “Lấy vợ đàn bà, làm nhà hướng Nam”; “Thần cây đa, ma cây gạo, cú cáo cây đề”…

+ Một số nét trong đời sống của nhân dân thời phong kiến xưa cũng được thể hiện qua những câu tục ngữ: “Đất có lề, quê có thói” hay “Phép vua thua lệ làng”…

+ Phản ánh tổ chức gia đình, quan điểm thân tộc trong các gia đình xưa: “Sẩy cha còn chú, sẩy mẹ bú dì”; “Chết trẻ còn hơn lấy lẽ” rồi còn có “Một người làm quan cả họ được nhờ”…

+ Đời sống của nhân dân lao động cùng cực cũng như quan hệ xã hội trong thời kì phong kiến được đúc kết lại: “Cá lớn nuốt cá bé”; “Bà chúa đút tay bằng ăn mày xổ ruột” hay “Tháng Tám đói qua, tháng Ba đói chết”…

 

c. Tục ngữ thể hiện triết lý dân gian dân tộc

Những kinh nghiệm sống, những truyền thống tư tưởng, đạo đức của nhân dân luôn là nguồn cảm hứng trong các câu tục ngữ. Ngoài ra còn chứa đựng cả những tư tưởng chính trị xã hội và triết học bên trong.

  • Tục ngữ thể hiện tư tưởng nhân đạo của nhân dân trước hết là là ở những quan niệm về con người. Ông cha ta cho rằng “Người làm ra của, của không làm ra người” – đề cao sự lao động của con người chứ không phải vật chất hay “Người sống của còn, người chết của hết” – con người là chủ thể của hành động của mọi sự lao động tạo nên vật chất.
  • Những biểu hiện trong thái độ và đánh giá về lao động hay những phán xét về con người trong lao động. Chúng ta hay nghe những câu như “Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ”; “Của một đồng, công một nén”…
  • Ca ngợi vẻ đẹp đất nước con người tài hoa từ đó thể hiện lòng tự hào dân tộc. Ví dụ “Thứ nhất kinh kì, thứ nhì Phố Hiến”, “Ăn Bắc, mặc Kinh”…
  • Có những tục ngữ là thể hiện tinh thần đấu tranh của nhân dân để chống lại những áp bức bất công. Ví dụ chúng ta có câu “Muốn nói oan làm quan mà nói”; “Được làm vua thua làm giặc”…
  • Những đức tính cần cù chịu khó của người dân lao động trong tục ngữ thể hiện truyền thống đạo đức, lối suy nghĩ rất sâu sắc của ông cha ta. Ví dụ chúng ta vẫn thường nghe những câu như “Có công mài sắt có ngày nên kim”; “Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ” hay những câu tục ngữ răn dạy của ông cha “Đói cho sạch, rách cho thơm”; “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”…

Nghệ thuật trong tục ngữ

a. Tục ngữ có mối quan hệ chặt chẽ giữa nội dung và hình thức

READ:  Cách dùng Forget, Sau Forget dùng Ving hay To Vinf?

Trong một câu tục ngữ hình thức và nội dung luôn có sự gắn kết chặt chẽ với nhau tạo thành một câu hoàn chỉnh thống nhất cả về hình thức và nội dung. Điều này thể hiện tính bền vững cho câu tục ngữ.

Tục ngữ có nhiều nghĩa. Một câu bao giờ cũng có nghĩa đen và nghĩa bóng.

Ví dụ: “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”

+Nghĩa đen: Mực có màu đen, đèn thường dùng để thắp sáng. Ý câu này là nếu để mực rây ra tay sẽ bị dính màu đen của mực còn ngồi gần đèn thì được ánh sáng từ đèn chiếu rõ.

+ Nghĩa bóng: “mực” ở đây là chỉ những người xấu xa, những điều không hay trong cuộc sống, còn “đèn” đại diện cho những thứ tốt đẹp, những con người tốt trong cuộc sống. Qua hình ảnh của “mực” và “đèn” ông cha ta muốn nhắn nhủ với lớp trẻ rằng môi trường sống rất quan trọng, ảnh hưởng đến nhận thức và lối sống của mỗi chúng ta một cách sâu sắc. Gần những điều xấu xa sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực thậm chí là bị tha hóa còn gần những điều tốt đẹp sẽ giúp ta trở nên trong sáng và lành mạnh hơn.

b. Tính hình tượng trong tục ngữ

Tính hình tượng trong tục ngữ thể hiện qua những phép so sánh, ẩn dụ, nhân hóa. Ông cha ta muốn thông qua những hình tượng hóa để thể hiện tư tưởng, quan niệm đúc kết lại kinh nghiệm, chân lý, phương châm sáng tạo nhưng cũng rất sâu sắc. Tính hình tượng hóa này giúp chúng ta dễ hiểu và có liên tưởng, suy ngẫm.

Ví dụ: “Người sống đống vàng” – Đống vàng thể hiện của cải vật chất giàu sang

“Thuận vợ thuận chồng, tát biển đông cũng cạn” – Biển đông thể hiện những chông gai, thử thách to lớn trong cuộc sống. Biển đông còn là những sóng gió, gập ghềnh rộng lớn như chính tên gọi của biển cả bao la.

c.Tục ngữ có vần điệu và sự hòa đối

– Tục ngữ có hình thức lưu truyền bằng miệng nên đa số nó đều có vần điệu để dễ thuộc, dễ nhớ. Thường thì tục ngữ có vần liền và vần cách.

Ví dụ: “Ăn không lo của kho cũng hết”; “Ăn cây nào, rào cây nấy”…

– Trong các câu tục ngữ bao giờ cũng thể hiện rõ yếu tố nhịp điệu, cách ngắt nhịp linh hoạt như ngắt trên yếu tố vần, trên cơ sở đổi ý hay theo tổ chức ngôn ngữ thơ ca.

Ví dụ: “Cái răng cái tóc là góc con người”; “Cần cù bù thông minh”…

– Tục ngữ có tính hòa hợp và cân đối tạo sự nhịp nhàng, vững chắc trong câu. Có các hình thức đối là đối thanh và đối ý.

Ví dụ: “Được làm vua, thua làm giặc”; “Cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt”…

d. Hình thức ngữ pháp trong tục ngữ

Các câu tục ngữ thường chia ra các vế, mỗi vế là các phán đoán, có thể là sự khẳng định hoặc cũng có thể là những phán đoán trái ngược trong 2 vế.

Ví dụ: “Thuốc đắng dã tật, sự thật mất lòng”; “Dục tốc bất đạt”…

e. Các kiểu suy luận trong tục ngữ

Sử dụng các quan hệ từ trong câu để thể những liên hệ sau đây:

  • Liên hệ tương đồng: các vế có ý nghĩa ngang nhau, thường sử dụng các từ “như, như thế, cũng là…”
  • Liên hệ không tương đồng: các vế không tương đương nhau, thường sử dụng “hơn, sao bằng,”…
  • Liên hệ tương phản, đối lập: các vế có ý nghĩa đối lập nhau “nhưng, mà, trái lại…”
  • Liên hệ nhân quả: Thể hiện nguyên nhân và kết quả của sự việc “tất phải, tất yếu, đương nhiên…”
READ:  Nêu cảm nhận về đoạn cuối bài thơ Đồng chí

Phân biệt tục ngữ với các hình thức dân gian khác

– Phân biệt tục ngữ với ca dao: ca dao và tục ngữ thường rất khó phân biệt. Chúng ta phân biệt chủ yếu dựa trên nội dung:

+ Ca dao thường có xu hướng thể hiện tình cảm, tâm tư, tâm tình của chủ thể.

+ Tục ngữ lại thiên về đúc kết kinh nghiệm, những răn dạy mang tính lý trí, khách quan.

– Phân biệt tục ngữ với thành ngữ: trước đây người ta cho rằng tục ngữ và thành ngữ luôn có mối quan hệ rất chặt chẽ nên thường sẽ không phân chia thể loại. Tuy nhiên ngày nay người ta phân biệt 2 loại như sau:

+ Thành ngữ là những cụm từ cố định, sẵn có quen thói để dùng.

+ Tục ngữ phải đúc kết kinh nghiệm hay lời khuyên răn, dạy bảo của người đi trước.

– Phân biệt tục ngữ với ngạn ngữ: 2 loại này khác nhau ở chỗ ngạn ngữ là những câu nói lưu hành từ xưa thể hiện những lời hay ý đẹp được ca tụng.

Ví dụ tục ngữ và phân tích

– Tục ngữ có câu “Uống nước nhớ nguồn”, vậy hiểu câu này như thế nào?

Đây là câu tục ngữ nổi tiếng trong khối kho tàng văn học đồ sộ của dân gian thể hiện truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta. “Nước” và “nguồn” là hay danh từ chỉ sự vật bao quát nhau. “Nước” chảy từ “nguồn”, “nguồn” là nơi sản sinh ra “nước”. “Uống” và “nhớ” chỉ hành động của con người, ý muốn nói khi chúng ta uống “nước” hãy nhớ về nơi nước được tạo nên đó chính là đầu nguồn. Chỉ với 4 chữ ngắn gọn, súc tích ông cha ta muốn khuyên răn con cháu khi hưởng thụ thành quả hãy trân trọng và biết ơn những người đã sản sinh ra nó.

– Câu “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”. Trong câu này, “gỗ” chỉ chất liệu, “nước sơn” là muốn nói rằng màu sắc bên ngoài sau khi hoàn thành sản phẩm. Bằng hình ảnh ẩn dụ “gỗ” không đơn giản chỉ là chất liệu làm nên đồ vật mà ẩn dụ cho cái bên trong, bản chất của sự việc, còn “nước sơn” chỉ cái bên ngoài, hình thức ông cha ta muốn nhắn nhủ rằng quan trọng nhất vẫn là bản chất bên trong, bản chất của sự vật, sự việc còn những thứ bên ngoài chỉ là phù du, dễ tan biến.

Trên đây là một số kiến thức cung cấp cho các bạn hiểu rõ hơn về tục ngữ là gì cũng như nội dung, nghệ thuật của tục ngữ. Vốn ngôn ngữ dân gian của dân tộc rất đa dạng, phong phú và giàu hình ảnh, mỗi chúng ta cần tìm hiểu để biết rõ hơn và sử dụng một cách linh hoạt, phù hợp. Đó cũng là cách giữ gìn và bảo vệ nguồn văn học dân gian mãi mãi bất tận và lưu truyền ngàn đời cho các thế hệ mai sau.

Thuật Ngữ –

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Wiki